Thứ Hai, 6 tháng 9, 2021

Thần chú lăng nghiêm là gì? Công năng chú lăng nghiêm, tụng Chú Lăng Nghiêm tiếng phạn tại đây

 Thần Chú Lăng Nghiêm có một vị trí quan trọng trong Phật giáo, được đưa vào khóa tu công phu khuya và tụng niệm mỗi ngày. Thần chú này được cho là có sức mạnh và công dụng không thể nghĩ bàn, giúp hành giả loại bỏ những chướng ngại ma quỷ để an trụ trong định, tiêu diệt vọng tưởng và đạt được trí tuệ và công đức.



Thần chú Lăng Nghiêm vi diệu không thể nghĩ bàn. Từ đầu đến cuối, mỗi câu đều là Phật pháp cửa tâm, mỗi câu đều có công dụng, mỗi chữ đều có điểm tinh tế thâm sâu, đều sở hữu thần thông không thể nghĩ bàn. Chỉ cần niệm một câu, một chữ, một hội (một đệ) hoặc cả câu thần chú sẽ khiến trời đất rung chuyển, ma trời kêu gào, ma quỷ tránh xa, xiềng xích tan biến. Vầng hào quang trên nhục thân của Đức Phật thể hiện sức mạnh của thần chú Lăng Nghiêm. Tức là thần chú có khả năng phá tan mọi bóng tối và khiến hành giả thành tựu mọi công đức tốt đẹp.

Chú Lăng nghiêm có loại bỏ tham dục không?

Nếu bạn chấp nhận và hộ trì thần chú Lăng Nghiêm, bạn chắc chắn sẽ trở thành một vị Phật trong tương lai và đạt được trạng thái giác ngộ chân chánh vô song. Nếu bạn thường trì tụng thần chú này, bạn sẽ tiêu trừ nghiệp chướng trong nhiều kiếp trước. Phép của Chú Lăng Nghiêm là vậy đó.

Duyên khởi từ câu chuyện Madangà sử dụng tà thuật khiến tôn giả Ananda mất kiểm soát, mê muội đến mức suýt đánh mất thánh mạng. Nhờ Phật phương tiện bảo Bồ tát Văn Thù tuyên bố thần chú giúp A Nan thoát khỏi ma nữ (Kinh Thủ Lăng Nghiêm). Sau đó, Đức Phật đã giác ngộ về chân tâm, khiến A-nan tẩy sạch mọi bụi trần mê muội, tu hành đạt đến giác ngộ.

Câu chuyện của Kinh Lăng Nghiêm

Trong thiền định, trì tụng và trì tụng thần chú Lăng Nghiêm sẽ hóa giải nghiệp chướng và phá bỏ những chướng ngại trên con đường tu tập. Tuy nhiên, nếu dịch thành "Người nào trì Chú Lăng Nghiêm thì không thể có vợ. Hoặc dù có vợ nhưng trì tụngThần chú này cũng sẽ dẫn đến ly hôn" là một loại bùa chú khiến gia đình ly tán là một sai lầm nghiêm trọng, vừa không phù hợp với kinh điển, vừa không phù hợp với tính nhân văn của đạo Phật.

Tất cả chư Phật trong mười phương đều được sinh ra từ thần chú Lăng Nghiêm. Tất cả các Đức Như Lai trong mười phương đều đã nương vào thần chú này để đạt được giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác. Các ngài ứng thân nhiều như số hạt bụi của các cõi nước để chuyển pháp luân, giáo hóa chúng sinh, thọ ký cho chúng sinh trong mười phương, cứu độ chúng sinh khỏi khổ đau, và làm cho tất cả chúng sinh lớn nhỏ được giải thoát. Tất cả đều phụ thuộc vào sức mạnh của thần chú Lăng Nghiêm. Muốn đắc quả A la hán thì phải trì tụng thần chú này để tránh ma sự.

Thần chú Lăng Nghiêm phiên bản Việt

Đây là thần chú Lăng Nghiêm được dịch từ các âm Phạn, Hán và Việt, được sử dụng chính thức trong kinh điển và các nghi lễ tụng kinh phổ biến ở Việt Nam và nước ngoài:

Nam-Mô-Lăng-Nghiêm Hội-Thượng Phật Bồ Tát ( 3 lần )

Diệu trạm tổng trì bất động tôn,

Thủ-Lăng-Nghiêm-Vương thế hi hữu,

Tiêu Ngã ức kiếp điên-đảo tưởng.

Bất lịch tăng-kỳ hoạch pháp thân,

Nguyện kim đắc quả thành bảo-vương,

Hườn độ như thị hằng sa chúng,

Tương thử thâm tâm phụng trần sát,

Thị tắc danh vị báo Phật ân:

Phục thỉnh Thế-Tôn vị chứng minh,

Ngũ-trược ác-thế thệ tiên nhập,

Như nhứt chúng sanh vị thành Phật,

Chung bất ư thử thủ nê-hoàn.

Đại –hùng đại -lực đại -từ-bi,

Hi cánh thẩm trừ vi-tế hoặc,

Linh ngã tảo đăng vô -thượng giác,

Ư thập phương giới tọa đạo tràng ;

Thuấn nhã đa tánh khả tiêu vong,

Thước –ca –ra tâm vô động chuyển.

Nam-mô thường-trụ thập-phương Phật.

Nam-mô thường-trụ thập-phương Pháp.

Nam-mô thường-trụ thập-phương Tăng.

Nam-mô Thích-Ca Mâu-Ni Phật.

Nam-mô Phật Đảnh Thủ-Lăng-Nghiêm.

Nam-mô Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.

Nam-mô Kim-Cang-Tạng Bồ-Tát.

Nhĩ thời Thế-Tôn,

Tùng nhục-kế trung,

Dõng bá bảo-quang,

Quang trung dõng xuất ,

Thiên diệp bảo liên,

Hữu hóa Như-Lai,

Tọa bảo hoa trung,

Đảnh phóng thập đạo,

Bá bảo quang-minh,

Nhứt nhứt quang-minh,

Giai biến thị hiện,

Thập hằng hà sa,

Kim-Cang mật tích,

Kình sơn trì sử,

Biến hư-không giới,

Đại chúng ngưỡng quan,

Ủy ái kiêm bảo,

Cầu Phật ai hựu,

Nhứt tâm thính Phật,

Vô-kiến đảnh tướng ,

Phóng quang như Lai,

Tuyên thuyết thần chú:

Đệ Nhất

01. Nam-mô tát đát tha

02. Tô già đa da

03. A ra ha đế

04. Tam-miệu tam bồ đà tỏa

05. Nam mô tát đát tha

06. Phật đà cu tri sắc ni sam

07. Nam-mô tát bà

08. Bột đà bột địa

09. Tát đa bệ tệ

10. Nam-mô tát đa nẩm

11. Tam-miệu tam bồ đà

12. Cu tri nẩm

13. Ta xá ra bà ca

14. Tăng già nẩm

15. Nam-mô lô kê A-La-Hán đa nẩm.

16. Nam-mô tô lô đa ba na nẩm.

17. Nam-mô ta yết rị đà dà di nẩm.

18. Nam-mô lô kê tam-miệu dà đa nẩm.

19. Tam-miệu dà ba ra

20. Ðể ba đa na nẩm.

21. Nam-mô đề bà ly sắc nỏa.

22. Nam-mô tất đà da

23. Tỳ địa da

24. Ðà ra ly sắc nỏa.

25. Xá ba noa

26. Yết ra ha

27. Ta ha ta ra ma tha nẩm

28. Nam-mô bạt ra ha ma ni

29. Nam-mô nhơn dà ra da

30. Nam-mô bà dà bà đế

31. Lô đà ra da.

32. Ô ma bát đế

33. Ta hê dạ da.

34. Nam-mô bà dà bà đế

35. Na ra dả

36. Noa da

37. Bàn dá ma ha tam mộ đà da

38. Nam-mô tất yết rị đa da

39. Nam-mô bà dà bà đế

40. Ma ha ca ra da

41. Ðịa rị bác lặc na

42. Dà ra tỳ đà ra

43. Ba noa ca ra da.

44. A địa mục đế

45. Thi ma xá na nê

46. Bà tất nê

47. Ma đát rị dà noa

48. Nam-mô tất yết rị đa da

49. Nam-mô bà dà bà đế

50. Ða tha dà đa câu ra da

51. Nam-mô bát đầu ma câu ra da.

52. Nam-mô bạc xà ra câu ra da.

53. Nam-mô ma ni câu ra da

54. Nam-mô dà xà câu ra da

55. Nam-mô bà dà bà đế

56. Ðế rị trà

57. Du ra tây na.

58. Ba ra ha ra noa ra xà da

59. Ða tha dà đa da

60. Nam-mô bà dà bà đế

61. Nam-mô A di đa bà da

62. Ða tha dà đa da

63. A ra ha đế.

64. Tam-miệu tam bồ đà da

65. Nam-mô bà dà bà đế

66. A sô bệ da

67. Ða tha dà đa da

68. A ra ha đế

69. Tam-miệu tam bồ đà da

70. Nam-mô bà dà bà đế

71. Bệ xa xà da

72. Câu lô phệ trụ rị da

73. Bác ra bà ra xà da

74. Ða tha dà đa da.

75. Nam-mô bà dà bà đế

76. Tam bổ sư bí đa

77. Tát lân nại ra lặc xà da

78. Ða tha dà đa da

79. A ra ha đế

80. Tam-miệu tam bồ đà da

81. Nam-mô bà dà bà đế

82. Xá kê dã mẫu na duệ

83. Ða tha dà đa da

84. A ra ha đế

85. Tam-miệu tam bồ đà da

86. Nam-mô bà dà bà đế

87. Lặc đát na kê đô ra xà da

88. Ða tha dà đa da

89. A ra ha đế

90. Tam-miệu tam bồ đà da

91. Ðế biều

92. Nam-mô tát yết rị đa

93. ế đàm bà dà bà đa

94. Tát đác tha dà đô sắc ni sam

95. Tát đác đa bát đác lam

96. Nam-mô a bà ra thị đam

97. Bác ra đế

98. Dương kỳ ra

99. Tát ra bà

100. Bộ đa yết ra ha

101. Ni yết ra ha

102. Yết ca ra ha ni

103. Bạt ra bí địa da

104. Sất đà nể

105. A ca ra

106. Mật rị trụ

107. Bát rị đác ra da

108. Nảnh yết rị

109. Tát ra bà

110. Bàn đà na

111. Mục xoa ni

112. Tát ra bà

113. Ðột sắc tra

114. Ðột tất phạp

115. Bát na nể

116. Phạt ra ni

117. Giả đô ra

118. Thất đế nẩm

119. Yết ra ha

120. Ta ha tát ra nhã xà

121. Tỳ đa băng ta na yết rị

122. A sắc tra băng xá đế nẩm

123. Na xoa sát đác ra nhã xà

124. Ba ra tát đà na yết rị

125. A sắc tra nẩm

126. Ma ha yết ra ha nhã xà

127. Tỳ đa băng tát na yết rị

128. Tát bà xá đô lô

129. Nể bà ra nhã xà

130. Hô lam đột tất phạp

131. Nan giá na xá ni

132. Bí sa xá

133. Tất đác ra

134. A kiết ni

135. Ô đà ca ra nhã xà

136. A bát ra thị đa câu ra

137. Ma ha bác ra chiến trì

138. Ma ha điệp đa

139. Ma ha đế xà

140 Ma ha thuế đa xà bà ra

141. Ma ha bạt ra bàn đà ra

142. Bà tất nể

143. A rị da đa ra

144. Tỳ rị câu tri

145. Thệ bà tỳ xà da

146. Bạt xà ra ma lễ để

147. Tỳ xá lô đa

148. Bột đằng dõng ca

149. Bạt xà ra chế hắt na a giá

150. Ma ra chế bà

151. Bát ra chất đa

152. Bạt xà ra thiện trì

153. Tỳ xá ra giá

154. Phiến đa xá

155. Bệ để bà

156. Bổ thị đa

157. Tô ma lô ba

158. Ma ha thuế đa

159. A rị da đa ra

160. Ma ha bà ra a bác ra

161. Bạt xà ra thương yết ra chế bà

162. Bạt xà ra câu ma rị

163. Câu lam đà rị

164. Bạt xà ra hắt tát đa giá

165. Tỳ địa da

166. Kiền dá na

167. Ma rị ca

168. Khuất tô mẫu

169. Bà yết ra đá na

170. Bệ lô giá na

171. Câu rị da

172. Dạ ra thố

173. Sắc ni sam

174. Tỳ chiếc lam bà ma ni giá.

175. Bạt xà ra ca na ca ba ra bà.

176. Lồ xà na

177. Bạt xà ra đốn trỉ giá

178. Thuế đa giá

179. Ca ma ra

180. Sát sa thi

181. Ba ra bà.

182. ế đế di đế

183. Mẫu đà ra

184. Yết noa.

185. Ta bệ ra sám

186. Quật phạm đô

187. ấn thố na mạ mạ tỏa.

Ðệ Nhị

188. Ô Hồng

189. Rị sắc yết noa

190. Bác lặc xá tất đa

191. Tát đác tha

192. Già đô sắc ni sam

193. Hổ hồng đô lô ung

194. Chiêm bà na

195. Hổ hồng đô lô ung

196. Tất đam bà na

197. Hổ hồng đô lô ung

198. Ba ra sắc địa da

199. Tam bác xoa

200. Noa yết ra

201. Hổ hồng đô lô ung

202. Tát bà dược xoa

203. Hắt ra sát ta

204. Yết ra ha nhã xà

205. Tỳ đằng băng tát na yết ra

206. Hổ hồng đô lô ung

207. Giả đô ra

208. Thi để nẩm

209. Yết ra ha

210. Ta ha tát ra nẩm

211. Tỳ đằng băng tát na ra

212. Hổ hồng đô lô ung

213. Ra xoa

214. Bà già phạm

215. Tát đác tha

216. Già đô sắc ni sam

217. Ba ra điểm

218. Xà kiết rị

219. Ma ha ta ha tát ra

220. Bột thọ ta ha tát ra

221. Thất rị sa

222. Câu tri ta ha tát nê

223. Ðế lệ a tệ đề thị bà rị đa

224. Tra tra anh ca

225. Ma ha bạt xà lô đà ra

226. Ðế rị bồ bà na

227. Man trà ra

228. Ô hồng

229. Ta tất đế

230. Bạt bà đô

231. Mạ mạ

232. ấn thố na mạ mạ tỏa.

Ðệ Tam

233. Ra xà bà dạ

234. Chủ ra bạt dạ

235. A kỳ ni bà dạ

236. Ô đà ca bà dạ

237. Tỳ xa bà dạ

238. Xá tát đa ra bà dạ

239. Bà ra chước yết ra bà dạ

240. Ðột sắc xoa bà dạ

241. A xá nể bà dạ

242. A ca ra

243. Mật rị trụ bà dạ

244. Ðà ra nị bộ di kiếm

245. Ba già ba đà bà dạ

246. Ô ra ca bà đa bà dạ

247. Lặc xà đàn trà bà dạ

248. Na dà bà dạ

249. Tỳ điều đát bà dạ

250. Tô ba ra noa bà dạ

251. Dược xoa yết ra ha

252. Ra xoa tư yết ra ha

253. Tất rị đa yết ra ha

254. Tỳ xá giá yết ra ha

255. Bô đa yết ra ha

256. Cưu bàn trà yết ra ha

257. Bổ đơn na yết ra ha

258. Ca tra bổ đơn na yết ra ha

259. Tất kiền độ yết ra ha

260. A bá tất ma ra yết ra ha

261. Ô đàn ma đà yết ra ha

262. Xa dạ yết ra ha

263. Hê rị bà đế yết ra ha

264. Xả đa ha rị nẩm

265. Yết bà ha rị nẩm

266. Lô địa ra ha rị nẩm

267. Mang ta ha rị nẩm

268. Mê đà ha rị nẩm

269. Ma xà ha rị nẩm

270. Xà đa ha rị nữ

271. Thị tỷ đa ha rị nẩm

272. Tỳ đa ha rị nẩm

273. Bà đa ha rị nẩm

274. A du giá ha rị nữ

275. Chất đa ha rị nữ

276. Ðế sam tát bệ sam

277. Tát bà yết ra ha nẩm

278. Tỳ đà dạ xà

279. Sân đà dạ di

280. Kê ra dạ di

281. Ba rị bạt ra giả ca

282. Hất rị đởm

283. Tỳ đà dạ xà

284. Sân đà dạ di

285. Kê ra dạ di

286. Trà diễn ni

287. Hất rị đởm

288. Tỳ đà dạ xà

289. Sân đà dạ di

290. Kê ra dạ di

291. Ma ha bát du bát đác dạ

292. Lô đà ra

293. Hất rị đởm

294. Tỳ đà dạ xà

295. Sân đà dạ di

296. Kê ra dạ di

297. Na ra dạ noa

298. Hất rị đởm

299. Tỳ đà dạ xà

300. Sân đà dạ di

301. Kê ra dạ di

302. Ðát đỏa dà lô trà tây

303. Hất rị đởm

304. Tỳ đà dạ xà

305. Sân đà dạ di

306. Kê ra dạ di

307. Ma ha ca ra

308. Ma đác rị già noa

309. Hất rị đởm

310. Tỳ đà dạ xà

311. Sân đà dạ di

312. Kê ra dạ di

313. Ca ba rị ca

314. Hất rị đởm

315. Tỳ đà dạ xà

316. Sân đà dạ di.

317. Kê ra dạ di

318. Xà dạ yết ra

319. Ma độ yết ra

320. Tát bà ra tha ta đạt na

321. Hất rị đởm

322. Tỳ đà dạ xà

323. Sân dà dạ di

324. Kê ra dạ di

325. Giả đốt ra

326. Bà kỳ nể

327. Hất rị đởm

328. Tỳ đà dạ xà

329. Sân đà dạ di

330. Kê ra dạ di

331. Tỳ rị dương hất rị tri

332. Nan đà kê sa ra

333. Dà noa bác đế

334. Sách hê dạ

335. Hất rị đởm

336. Tỳ đà dạ xà

337. Sân đà dạ di

338. Kê ra dạ di

339. Na yết na xá ra bà noa

340. Hất rị đởm

341. Tỳ đà dạ xà

342. Sân đà dạ di

343. Kê ra dạ di

344. A-la-hán

345. Hất rị đởm

346. Tỳ đà dạ xà

347. Sân đà dạ di

348. Kê ra dạ di

349. Tỳ đa ra dà

350. Hất rị đởm

351. Tỳ đà dạ xà

352. Sân đà dạ di

353. Kê ra dạ di

354. Bạt xà ra ba nể

355. Câu hê dạ câu hê dạ

356. Ca địa bát đế

357. Hất rị đởm

358. Tỳ đà dạ xà

359. Sân đà dạ di

360. Kê ra dạ di

361. Ra xoa vỏng

362. Bà dà phạm

363. ấn thố na mạ mạ tỏa

Ðệ Tứ

364. Bà dà phạm

365. Tát đác đa bát đác ra

366. Nam-mô tý đô đế

367. A tất đa na ra lặc ca

368. Ba ra bà

369. Tất phổ tra

370. Tỳ ca tát đác đa bát đế rị

371. Thập Phật ra thập Phật ra

372. Ðà ra đà ra

373. Tần đà ra tần đà ra

374. Sân đà sân đà

375. Hổ hồng hổ hồng.

376. Phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra.

377. Ta ha

378. Hê hê phấn

379. A mâu ca da phấn

380. A ba ra đề ha da phấn

381. Ba ra bà ra đà phấn

382. A tố ra

383. Tỳ đà ra

384. Ba ca phấn

385. Tát bà đề bệ tệ phấn

386. Tát bà na dà tệ phấn

387. Tát bà dược xoa tệ phấn

388. Tát bà kiền thát bà tệ phấn

389. Tát bà bổ đơn na tệ phấn

390. Ca tra bổ đơn na tệ phấn

391. Tát bà đột lang chỉ đế tệ phấn.

392. Tát bà đột sáp tỷ lê

393. Hất sắc đế tệ phấn

394. Tát bà thập bà lê tệ phấn

395. Tát bà a bá tất ma lê tệ phấn

396. Tát bà xá ra bà noa tệ phấn.

397. Tát bà địa đế kê tệ phấn

398. Tát bà đát ma đà kê tệ phấn

399. Tát bà tệ đà da

400. Ra thệ giá lê tệ phấn

401. Xà dạ yết ra

402. Ma độ yết ra

403. Tát bà ra tha ta đà kê tệ phấn.

404. Tỳ địa dạ

405. Giá lê tệ phấn

406. Giả đô ra

407. Phược kỳ nể tệ phấn

408. Bạt xà ra

409. Câu ma rị;

410. Tỳ đà dạ

411. La thệ tệ phấn

412. Ma ha ba ra đinh dương

413. Xoa kỳ rị tệ phấn

414. Bạt xà ra thương yết ra dạ

415. Ba ra trượng kỳ ra xà da phấn

416. Ma ha ca ra dạ

417. Ma ha mạt đát rị ca noa

418. Nam-mô ta yết rị đa da phấn.

419. Tỷ sắc noa tỳ duệ phấn

420. Bột ra ha mâu ni duệ phấn

421. A kỳ ni duệ phấn

422. Ma ha yết rị duệ phấn

423. yết ra đàn tri duệ phấn

424. Miệc đát rị duệ phấn

425. Lao đát rị duệ phấn

426. Giá văn trà duệ phấn

427. Yết la ra đác rị duệ phấn.

428. Ca bát rị duệ phấn

429. A địa mục chất đa

430. Ca thi ma xá na

431. Bà tư nể duệ phấn

432. Diễn kiết chất

433. Tát đỏa bà tỏa

434. Mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa

Ðệ Ngũ

435. Ðột sắc tra chất đa

436. A mạt đác rị chất đa

437. Ô xà ha ra

438. Dà ba ha ra

439. Lô địa ra ha ra

440. Ta bà ha ra

441. Ma xà ha ra

442. Xà đa ha ra

443. Thị tỉ đa ha ra

444. Bạt lược dạ ha ra

445. Kiền đà ha ra

446. Bố sữ ba ha ra

447. Phả ra ha ra

448. Bà tả ha ra

449. Bát ba chất đa

450. Ðột sắc tra chất đa.

451. Lao đà ra chất đa

452. Dược xoa yết ra ha

453. Ra sát ta yết ra ha

454. Bế lệ đa yết ra ha

455. Tỳ xá giá yết ra ha

456. Bộ đa yết ra ha

457. Cưu bàn trà yết ra ha

458. Tất kiền đà yết ra ha

459. Ô đát ma đà yết ra ha

460. Xa dạ yết ra ha

461. A bá tất ma ra yết ra ha.

462. Trạch khê cách

463. Trà kỳ ni yết ra ha

464. Rị Phật đế yết ra ha

465. Xà di ca yết ra ha

466. Xá câu ni yết ra ha

467. Lao đà ra

468. Nan địa ca yết ra ha

469. A lam bà yết ra ha

470. Kiền độ ba ni yết ra ha

471. Thập phạt ra

472. Yên ca hê ca

473. Trị đế dược ca

474. Ðát lệ đế dược ca

475. Giả đột thác ca

476. Ni đề thập phạt ra

477. Tỉ sam ma thập phạt ra

478. Bạt để ca

479. Tỷ để ca

480. Thất lệ sắc mật ca

481. Ta nể bát để ca

482. Tát bà thập phạt ra

483. Thất lô kiết đế

484. Mạt đà bệ đạt lô chế kiếm

485. A ỷ lô kiềm

486. Mục khê lô kiềm

487. Yết rị đột lô kiềm

488. Yết ra ha

489. Yết lam yết noa du lam

490. Ðản đa du lam

491. Hất rị dạ du lam

492. Mạt mạ du lam

493. Bạt rị thất bà du lam

494. Tỷ lật sắc tra du lam

495. Ô đà ra du lam

496. Yết tri du lam

497. Bạt tất đế du lam

498. Ô lô du lam

499. Thường dà du lam

500. Hắc tất đa du lam

501. Bạt đà du lam

502. Ta phòng án dà

503. Bát ra trượng dà du lam

504. Bộ đa tỷ đa trà

505. Trà kỳ ni

506. Thập bà ra

507. Ðà đột lô ca

508. Kiến đốt lô kiết tri

509. Bà lộ đa tỳ

510. Tát bát lô

511. Ha lăng già

512. Du sa đát ra

513. Ta na yết ra

514. Tỳ sa dụ ca

515. A kỳ ni

516. Ô đà ca

517. Mạt ra bệ ra

518. Kiến đa ra

519. A ca ra

520. Mật rị đốt

521. Ðát liểm bộ ca

522. Ðịa lật lặc tra

523. Tỷ rị sắc chất ca

524. Tát bà na câu ra

525. Tứ dẫn dà tệ

526. Yết ra rị dược xoa

527. Ðác ra sô

528. Mạt ra thị

529. Phệ đế sam

530. Ta bệ sam

531. Tất đát đa bát đác ra

532. Ma ha bạt xà lô

533. Sắc ni sam

534. Ma ha bát lặc trượng kỳ lam

535. Dạ ba đột đà

536. Xá dụ xà na

537. Biện đát lệ noa

538. Tỳ đà da

539. Bàn đàm ca lô di

540. Ðế thù

541. Bàn đàm ca lô di

542. Bát ra tỳ đà

543. Bàn đàm ca lô di

544. Ðát điệt tha

545. Án

546. A na lệ

547. Tỳ xá đề

548. Bệ ra

549. Bạt xà ra

550. Ðà rị

551. Bàn đà bàn đà nể

552. Bạt xà ra bán ni phấn

553. Hổ hồng đô lô ung phấn

554. Ta bà ha.

Thần chú Lăng Nghiêm bản tiếng Phạn

1 - Nam mô sát tát tha, sô ga đa da, a ra ha tê, sam muya sam bô đa sê.

2 - Nam mô sát tát tha, bu đa cô ti, si ni sam.

3 - Nam mô sát va, bu đa bu ti, sát ta bê tê.

4 - Nam mô sát ta nam, sam muya sam bô đa cô ti nam.

5 - Sa sê ra pa ca, săng ga nam.

6 - Nam mô lu kê a ra han ta nam.

7 - Nam mô su ru ta pa na nam.

8 - Nam mô sa khít ri ta ca mi nam.

9 - Nam mô lu kê sam mya ca ta nam.

10 - Sam mya ca pa ra, ti pa ta na nam.

11 - Nam mô đê va li si nan.

12 - Nam mô si ta da pi ti da, ta ra li si nan.

13 - Sê pa nu, gơ ra ha, sô ha sa ra ma tha nam.

14 - Nam mô pát ra ha ma ni.

15 - Nam mô in đa ra da.

16 - Nam mô ba ga va tê.

17 - Ru đa ra da.

18 - U ma pun ti.

19 - Sô hê da da.

20 - Nam mô ba ga va tê.

21 - Na ra da, na da.

22 - Phun cha ma ha, sam mu ta ra.

23 - Nam mô si khít ri ta da.

24 - Nam mô ba ga va tê.

25 - Ma ha ca ra da.

26 - Ti ri pa ra na ga ra.

27 - Pi ta ra, pa na ca ra da.

28 - A ti mu tê.

29 - Si ma sa na ni, ba si ni.

30 - Ma tát ri ga na.

31 - Nam mô si khít ri ta da.

32 - Nam mô ba ga va tê.

33 - Ta tha ga ta cô ra da.

34 - Nam mô pát tâu ma cô ra da.

35 - Nam mô pát cha ra cô ra da.

36 - Nam mô ma ni cô ra da.

37 - Nam mô ga cha cô ra da.

38 - Nam mô ba ga va tê.

39 - Ti ri đa su ra si na.

40 - Pa ra ha ra na ra cha da.

41 - Ta tha ga ta da.

42 - Nam mô ba ga va tê.

43 - Nam mô a mi ta ba da.

44 - Ta tha ga ta da.

45 - A ra ha tê.

46 - Sam mya sam bô đa da.

47 - Nam mô ba ga va tê.

48 - A sô bi da.

49 - Ta tha ga ta da.

50 - A ra ha tê.

51 - Sam mya sam bô đa da.

52 - Nam mô ba ga va tê.

53 - Bi sa cha da, cu ru phi chu ri da.

54 - Pa ra bà ra cha da.

55 - Ta tha ga ta da.

56 - Nam mô ba ga va tê.

57 - Sam pu su pi ta.

58 - Sát lin nai ra si cha da.

59 - Ta tha ga ta da.

60 - A ra ha tê.

61 - Sam mya sam bô đa da.

62 - Nam mô ba ga va tê.

63 - Sê kê dê mu na dây.

64 - Ta tha ga ta da.

65 - A ra ha tê.

66 - Sam mya sam bô đa da.

67 - Nam mô ba ga va tê.

68 - Si tát na kê tu ra cha da.

69 - Ta tha ga ta da.

70 - A ra ha tê.

71 - Sam mya sam bô đa da.

72 - Ti piêu, nam mô sát khít ri ta.

73 - Ê đam, ba ga va ta.

74 - Sát tát tha, ga tu si ni sam.

75 - Sát tát ta, pát tát lam.

76 - Nam mô a ba ra si đam.

77 - Paùt ra ti, dang ky ra.

78 - Sát ra ba, pu ta gơ ra ha.

79 - Ni gơ ra ha, khít ca ra ha ni.

80 - Pát ra, pi ti da, cha đa ni.

81 - A ca ra, mớt ri chu.

82 - Pát ri tát ra da, nang khít ri.

83 - Sát ra ba, pun đa na, mu sa ni.

84 - Sát ra ba, tát si cha.

85 - Tát si pháp, pun ma ni, phát ra ni.

86 - Chê tu ra, si ti nam.

87 - Gơ ra ha, sô ha sát ra nha cha.

88 - Pi ta pang sa na khít ri.

89 - A si cha pinh sê ti nam.

90 - Na sa sát tát ra nha cha.

91 - Pa ra sát tha na khít ri.

92 - A si cha nam.

93 - Ma ha gơ ra ha nha cha.

94 - Pi ta pang sát na khít ri.

95 - Sát va sê tu ru, ni ba ra nha cha.

96 - Hu lam tát si pháp, nan cha na sê ni.

97 - Pi sa sê, si tát ra.

98 - A kít ni, u đa ca ra nha cha.

99 - A pát ra si ta khu ra.

100 - Ma ha pát ra chên chi.

101 - Ma ha típ ta.

102 - Ma ha ti cha.

103 - Ma ha suê ta cha ba ra.

104 - Ma ha pát ra pun đa ra, ba si ni.

105 - A ri da ta ra.

106 - Pi ri cô ti.

107 - Si va pi cha da.

108 - Pát cha ra, ma ly ty.

109 - Pi sê ru ta.

110 - Pút tang mang ca.

111 - Pát cha ra, chi hô na a cha.

112 - Ma ra chi ba, pát ra chi ta.

113 - Pát cha ra sin chi.

114 - Pi sê ra cha.

115 - Sin ta sê, bê đê va, pu si ta.

116 - Su ma ru pa.

117 - Ma ha suê ta.

118 - A ri da ta ra.

119 - Ma ha ba ra, a pát ra.

120 - Pát cha ra, xương khít ra chê ba.

121 - Pát cha ra, cu ma ri.

122 - Cu lam ta ri.

123 - Pát cha ra, hốt sát ta cha.

124 - Pi ti da khin chê na, ma ri ca.

125 - Quát su mu, ba khít ra ta na.

126 - Vê rô cha na, cu ri da.

127 - Da ra thâu, si ni sam.

128 - Pi chi lam ba ma ni cha.

129 - Pát cha ra, ca na, ca pa ra ba.

130 - Rô cha na, pát cha ra, tân chi cha.

131 - Suê ta cha, ca ma ra.

132 - Sát sa si, pa ra ba.

133 - Ê tê di tê.

134 - Mu ta ra, kít na.

135 - Sô bê ra sam.

136 - Quát pham tu.

137 - In thâu na, ma ma sê.

*- II -

138 - U hum,

139 - Ry si kít na.

140 - Pa ra, sê si ta.

141 - Sát tát tha, ga tu si ni sam.

142 - Hu hum,

143 - Tu ru ung,

144 - Chim ba na.

145 - Hu hum,

146 - Tu ru ung,

147 - Si đam ba na.

148 - Hu hum,

149 - Tu ru ung,

150 - Pa ra si đi da, sam pát soa, na khít ra.

151 - Hu hum,

152 - Tu ru ung,

153 - Sát va dác sa, hát ra sát sa.

154 - Gơ ra ha nha cha.

155 - Pi tang pang sát, na khít ra.

156 - Hu hum,

157 - Tu ru ung,

158 - Chê tu ra, si ti nam.

159 - Gơ ra ha, sa ha sát ra nam.

160 - Pi tang pang sát na ra.

161 - Hu hum,

162 - Tu ru ung,

163 - Ra soa,

164 - Ba ga va.

165 - Sát tát tha, ga tu si ni sam.

166 - Pa ra tim, cha kít ri.

167 - Ma ha, sô ha sát ra.

168 - Bút su sa, ha sát ra, si ri sa.

169 - Cô ti, sô ha sát ni, ti lê.

170 - A pi đi si, ba ri ta.

171 - Cha cha ang ca.

172 - Ma ha pát cha ru ta ra.

173 - Ti ri bô ba na.

174 - Man ta ra.

175 - U hum,

176 - Sa si ti, bô ba tu.

177 - Ma ma,

178 - In thâu na, ma ma sê.

- III -

179 - Ra cha ba da.

180 - Chu ra pát da.

181 - A chi ni ba da.

182 - U đa ca ba da.

183 - Pi sa ba da.

184 - Sê sát ta ra ba da.

185 - Ba ra chước khiết ra ba da.

186 - Tát sít soa ba da.

187 - A sê ni ba da.

188 - A ca ra mơ ri chu ba da.

189 - Đa ra ni, pu mi kim, ba ga va ta ba da.

190 - U ra ca, ba đa ba da.

191 - Rát cha than đa ba da.

192 - Na ga ba da.

193 - Pi thiêu tát ba da.

194 - Sô pa ra na ba da.

195 - Dác soa gơ ra ha.

196 - Ra soa si gơ ra ha.

197 - Pê ri ta gơ ra ha.

198 - Pi sa cha gơ ra ha.

199 - Pu ta gơ ra ha.

200 - Cu ban đa gơ ra ha.

201 - Pu tan na gơ ra ha.

202 - Ca cha pu tan na gơ ra ha.

203 - Si kin tu gơ ra ha.

204 - A pa si ma ra gơ ra ha.

205 - U than ma ta gơ ra ha.

206 - Sa da gơ ra ha.

207 - Hê ri ba ti gơ ra ha.

208 - Sê ta ha ri nam.

209 - Khít ba ha ri nam.

210 - Ru ti ra ha ri nam.

211 - Mang sa ha ri nam.

212 - Mê ta ha ri nam.

213 - Ma cha ha ri nam.

214 - Cha ta ha ri nu.

215 - Si pi ta ha ri nam.

216 - Pi ta ha ri nam.

217 - Ba đa ha ri nam.

218 - A su cha ha ri nu.

219 - Chít ta ha ri nu.

220 - Ti sam sát bi sam.

221 - Sát va gơ ra ha nam.

222 - Pi đa da cha, san đa da mi

223 - Kê ra da mi,

224 - Pa ri pát ra chê ca, cát ri tam.

225 - Pi đa da cha, san đa da mi

226 - Kê ra da mi,

227 - Đa din ni, cát ri tam.

228 - Pi đa da cha, san đa da mi

229 - Kê ra da mi,

230 - Ma ha pát su pát tát da,

231 - Ru đa ra, cát ri tam.

232 - Pi đa da cha, san đa da mi

233 - Kê ra da mi,

234 - Na ra da na, cát ri tam.

235 - Pi đa da cha, san đa da mi

236 - Kê ra da mi,

237 - Tát toa ga ru đa si, cát ri tam.

238 - Pi đa da cha, san đa da mi

239 - Kê ra da mi,

240 - Ma ha ca ra, ma tát ri ga na, cát ri tam.

241 - Pi đa da cha, san đa da mi

242 - Kê ra da mi,

243 - Ca pa ri ca, cát ri tam.

244 - Pi đa da cha, san đa da mi

245 - Kê ra da mi,

246 - Cha da khít ra, ma tu khít ra.

247 - Sát va ra tha sa tát na, cát ri tam.

248 - Pi đa da cha, san đa da mi

249 - Kê ra da mi,

250 - Chư chát ra, ba ky ni, cát ri tam.

251 - Pi đa da cha, san đa da mi

252 - Kê ra da mi,

253 - Pi ri dang cát ri chi

254 - Nan đa kê sa ra, ga na phun ti.

255 - Sát hê da, cát ri tam.

256 - Pi đa da cha, san đa da mi

257 - Kê ra da mi,

258 - Na khít na sa ra ba na, cát ri tam.

259 - Pi đa da cha, san đa da mi

260 - Kê ra da mi,

261 - A ra han, cát ri tam, pi đa da cha, san đa da mi,

262 - Kê ra da mi,

263 - Pi ta ra ga, cát ri tam.

264 - Pi đa da cha, san đa da mi

265 - Kê ra da mi, pát cha ra pa mi,

266 - Cu hê da cu hê da,

267 - Ca đi pát ti cát ri tam.

268 - Pi đa da cha, san đa da mi

269 - Kê ra da mi,

270 - Ra soa mang,

271 - Ba ga va,

272 - In thâu na ma ma sê.

- IV -

273 - Ba ga va,

274 - Si ta ta, pa tơ ra.

275 - Nam mô suy tu tê.

276 - A si ta na ra chi ca.

277 - Pa ra va, si phu cha.

278 - Pi ca sát tát ta pát ti ri.

279 - Sập phật ra sập phật ra,

280 - Đa ra đa ra,

281 - Văn đa ra, văn đa ra, san đa san đa.

282 - Hu hum,

283 - Hu hum.

284 - Phun cha,

285 - Phun cha, phun cha, phun cha, phun cha.

286 - Sô ha,

287 - Hê hê phun.

288 - A mâu ca da phun.

289 - A pa ra đê ha ta phun.

290 - Ba ra pa ra ta phun.

291 - A sô ra, pi ta ra, pa ca phun.

292 - Sát va đê bê pi phun.

293 - Sát va na ga pi phun.

294 - Sát va dác sa pi phun.

295 - Sát va gan đa va pi phun.

296 - Sát va pu ta na pi phun.

297 - Ca cha pu ta na pi phun.

298 - Sát va tát lang chi ti pi phun.

299 - Sát va tát sít pi lây, cát si ti pi phun.

300 - Sát va sấp ba lay pi phun.

301 - Sát va a pa si mô lay pi phun.

302 - Sát va sê ra ba na pi phun.

303 - Sát va ti tê kê pi phun.

304 - Sát va tát ma ta ky pi phun.

305 - Sát va pi ta da ra si cha lây pi phun.

306 - Cha da khít ra, ma tu khít ra,

307 - Sát va ra tha sa đa kê pi phun.

308 - Pi ti da cha lây pi phun.

309 - Chê tu ra, phác ky ni pi phun.

310 - Pát cha ra, cu ma ri,

311 - Pi ta da, ra si pi phun.

312 - Ma ha pa ra tinh dang, soa ky ri pi phun.

313 - Pát cha ra sang khít ra da,

314 - Pa ra chang ky ra cha da phun.

315 - Ma ha ca ra da,

316 - Ma ha mút tát ri ca na,

317 - Nam mô sa khít ri ta da phun.

318 - Pi si na phi dây phun.

319 - Pu ra ha mâu ni dây phun.

320 - A ky ni dây phun.

321 - Ma ha khít ri dây phun.

322 - Khít ra than chi dây phun.

323 - Mít tát ri dây phun.

324 - Ru tát ri dây phun.

325 - Cha man đa dây phun.

326 - Khít la ra tát ri dây phun.

327 - Ca phun ri dây phun.

328 - A ti mu chít ta, ca si ma sa na,

329 - Ba su ni dây phun.

330 - Din kít chít,

331 - Sát tô va sê,

332 - Ma ma in thâu na ma ma sê.

- V -

333 - Tát si cha chít ta.

334 - A mút tát ri chít ta.

335 - U cha ha ra.

336 - Ga ba ha ra.

337 - Rô ti ra ha ra.

338 - Ba sa ha ra.

339 - Ma cha ha ra.

340 - Cha ta ha ra.

341 - Si pi ta ha ra.

342 - Pát lác da ha ra.

343 - Khin ta ha ra.

344 - Pu sư pa ha ra.

345 - Phô ra ha ra.

346 - Ba sê ha ra.

347 - Pún pa chít ta.

348 - Tát si cha chít ta.

349 - Lu ta ra chít ta.

350 - Dác sa gơ ra ha.

351 - Ra sát sa gơ ra ha.

352 - Pay lê ta gơ ra ha.

353 - Pi sa cha gơ ra ha.

354 - Pu ta gơ ra ha.

355 - Cu ban đa gơ ra ha.

356 - Si khin ta gơ ra ha.

357 - U tát ma ta gơ ra ha.

358 - Sê dê gơ ra ha.

359 - A pa sát ma ra gơ ra ha.

360 - Chác khu cát, đa ky ni gơ ra ha.

361 - Ri pút ti gơ ra ha.

362 - Cha mi ca gơ ra ha.

363 - Sa cu ni gơ ra ha.

364 - Mu ta ra, nan ti ca gơ ra ha.

365 - A lam ba gơ ra ha.

366 - Khin tu pa ni gơ ra ha.

367 - Sập phạt ra, in ca hê ca.

368 - Chuy ti dác ca.

369 - Tát lê ti dác ca.

370 - Chê tát thác ca.

371 - Ni đê sập phạt ra, pi sam ma sập phạt ra.

372 - Pô ti ca,

373 - Pi ti ca,

374 - Sít lê si mi ca.

375 - Sa ni pun ti ca.

376 - Sát va sập phạt ra.

377 - Sít ru kít tê.

378 - Mút đa bi tát ru chê kim.

379 - A y ru khim.

380 - Mu khu ru khim.

381 - Khít ri tát ru khim.

382 - Khít ra ha, khít lam.

383 - Khít na su lam.

384 - Tan ta su lam.

385 - Ngát ri da su lam.

386 - Mát ma su lam.

387 - Pát ri si ba su lam.

388 - Pi lát si cha su lam.

389 - U ta ra su lam.

390 - Khít chi su lam.

391 - Pát si ti su lam.

392 - U ru su lam.

393 - Sang ca su lam.

394 - Hát si ta su lam.

395 - Pát ta su lam.

396 - Sa phang ang ca pát ra, chang kha su lam.

397 - Pu ta bi ta đa.

398 - Đa ky ni sấp ba ra.

399 - Ta tát ru ca, kin chát ru kít chi, ba lu ta pi.

400 - Sát pát ru ha lang ca.

401 - Su sa tát ra, sa na khít ra.

402 - Pi sa du ca.

403 - A ky ni, u ta ca.

404 - Mát ra bê ra, kin ta ra.

405 - A ca ra, mít ri chát, than lim pu ca.

406 - Ti lất chi cha.

407 - Pi ri sít chít ca.

408 - Sát va na khu ra.

409 - Si dan ga pi, khít ra ri dác sa, tát ra sô.

410 - Mát ra si, phê ti sam sa bê sam.

411 - Si ta ta, pa tơ ra.

412 - Ma ha pát cha ru, sít ni sam.

413 - Ma ha pa ra chang ky lam.

414 - Da pa tát đa sa du cha na.

415 - Pin tan ly na.

416 - Pi đa da, ban đam ca ru mi.

417 - Ti su, ban đam ca ru mi.

418 - Pát ra pi đa, ban đam ca ru mi.

419 - Ta đya tha.

420 - A ôm,

421 - A na lê,

422 - Bi su đê,

423 - Bê ra, pát cha ra, đa ri.

424 - Pun đa pun đa ni,

425 - Pát cha ra pang ni phun.

426 - Hu hum tu ru ung phun,

427 - Sô va ha.

Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2021

𝗧Ạ𝗜 𝗦𝗔𝗢 𝗧Â𝗠 𝗚𝗜Á𝗖 𝗡𝗚Ộ 𝗟À 𝗕Ạ𝗡?

 Thường mình hay nói tôi là nữ, là nam, là ông này, bà nọ, là chủng tộc này, tôn giáo kia...Nhưng nay lại nghe " Tâm Giác Ngộ là bạn" bạn thấy thế nào? nghe có quen thuộc không?



Tuy khó nghe nhưng đó là sự thật. Vì nếu thân máu thịt và tâm sinh diệt này là bạn thì trước khi là thành viên trong gia đình nào đó để có thân tâm này, bạn là ai? ở đâu? Rồi sau khi thân này mất, bạn về đâu? Có bao giờ bạn hỏi mình như vậy không? Bạn nên biết mình đích thực là ai thì mới trở về sống được với con người thật của chính mình, nếu không, bạn sẽ mất phương hướng, mất lối đi, mất mình và mãi mãi chìm đắm, nổi trôi theo dòng đời xuôi ngược.
​Thật ra, Tâm Giác Ngộ là bạn, cái thênh thang bất động lúc nào cũng hiện hữu, cũng trong ngoài rõ ràng thường biết, mới chính là bạn. Nhưng từ lâu vì quên mình là ai, nên chạy theo 1 niệm chấp thật, gặp cảnh nào chấp thật cảnh đó, để rồi hình thành cái tôi khái niệm về những gì mình thấy nghe, hiểu biết, cho là thật, từ đó sanh tâm phân biệt, phán xét, đúng sai, phải quấy, đưa đến khổ đau, sanh tử tiếp nối không cùng....
Biết rõ bạn là ai, như một đòn bẩy để bẩy bạn về với chính con người thật của bạn, cái mà có mặt với bạn trước và ngay khi bạn chào đời, và khi từ giả cõi đời này cái đó cũng luôn có nơi bạn, nếu quay về nhận ra và sống với nó thì từ đây bạn thành người hoàn toàn mới, sẽ thênh thang, tự do tự tại, không còn bị khổ đau, mâu thuẫn, bế tắc nữa....
Làm người là cơ hội tốt nhất để trở về sống với con người thật của bạn, chúng ta phải về lại chính mình khi đang còn có thân này, nếu mất thân này rất khó có cơ hội tu tập để nhận ra được chính mình. Chỉ về sống lại với chính mình thì cuộc sống mới có ý nghĩa, bằng không sống cũng như chết. Vì không biết mình là ai, nên chúng ta bám vào cái không phải là mình, cho là mình, là của mình, đến khi dòng đời thay đổi, mọi thứ đến đi, mình đau khổ, bế tắc, hụt hẫng, ngay cả khi đang sở hữu rất nhiều, mình cũng bất an vì tâm trạng lúc nào cũng sợ mất, hoặc thấy chưa đủ.
Biết mình là ai giúp bạn nhận ra cái không phải là mình và bạn tỉnh ra từng giây phút trong cuộc sống, lúc này không gì qua được bạn cả, những cái không phải là mình, tự hiển lộ trước bạn, vỡ tung, rơi rụng, vì bạn biết rõ “Nó Là Gì”, và từ đây không còn nhận lầm khách làm mình nữa, khi đó, khách đến, khách đi hay dòng đời biến đổi, bạn luôn tự do tự tại, vì lúc này bạn biết rõ đó là khách, nên không còn nắm giữ, không còn bảo vệ hoặc bào chửa, bám víu vào nó như xưa nữa.

Chúng ta có mặt trên cuộc đời này để làm gì?

Để nhận ra và sống với con người thật của mình, cái không sanh không diệt, không già, không chết, không khổ đau… như người tha hương muốn về sống lại trên quê hương mình, nơi đó mình từng sanh ra, lớn lên, vào ra tự nhiên trong thế giới đó, nên khi làm người tha hương, nhiều lúc, mình có tất cả, nhưng trong thẳm sâu dường như vẫn thấy thiếu một cái gì đó, mà không làm sao lấp đầy được, do đó, lúc nào chúng ta cũng thấy bất an và mãi mãi đi tìm…
nhưng khi về được Quê Hương Đích Thực của mình, chúng ta sống một cách an nhiên, không có gì phải suy nghĩ, lo toan, cho dù ăn rau luộc chấm nước tương, cũng thấy hạnh phúc.....
Lưỡi vướng vị ngon, tai vướng tiếng
Mắt theo hình sắc, mũi theo hương.
Lênh đênh làm khách phong trần mãi
Ngày hết, xa quê vạn dặm trường.
[Trần Thái Tông]
​Về quê hương là về lại sống với con người thật của mình, đó là điều tự nhiên, rất quan trọng và cần thiết, là chuyện mà mỗi chúng ta cần phải làm, không có gì là mơ mộng viễn vông hay cao xa huyền hoặc, khó nghĩ, khó làm, đó không phải là chuyện của người này hay người kia, mà là chuyện của mỗi chúng ta, cho nên đây là điều mà mỗi chúng ta cần xác định cho rõ ràng, minh bạch, khi càng rõ mình là ai thì mình sẽ mạnh dạn đứng lên để tìm lại chính mình. Cũng như khi mình lạc mất người thân yêu nhất của đời mình, mình sẽ khó quên và lúc nào cũng tìm mọi cách để sum họp với người thân ấy. Chúng ta mất mình còn hơn lạc mất người thân yêu ấy nữa! Thế tại sao không tìm lại chính mình?

Nhận lại mình là chuyện bình thường, nếu không có lòng nhận lại đó mới là chuyện không bình thường.

Tại sao ở đây chúng tôi nói là bình thường, vì chỉ có cái tâm đó chúng ta mới đủ sức mạnh đứng lên đi tìm nhận lại mình, nếu không, cứ sống cho qua ngày đoạn tháng, quên mình là ai, rồi nhận đối tượng khác cho là mình, nhưng trong tận cùng tự biết là không phải, mà không dám nghĩ khác hơn, nên không có sức mạnh để về lại với chính mình. Đây là không bình thường.
Xưa nay không một vật
Làm gì dính bụi trần
Vì không nhận ra và sống với con người thật của mình nên mất mình theo bụi trần, từ đó nhận bụi là mình rồi bụi này dính bụi kia cứ thế, lớp lớp chất chồng, che lấp cái xưa nay không một vật.

Nhưng làm sao về lại và sống với cái xưa nay không một vật, điều này đòi hỏi chúng ta một lần nữa phải tin và biết chắc "Tâm Giác Ngộ là mình", nó có mặt nơi chúng ta từng giây từng phút, sự sống của nó rất thênh thang, nó có khả năng thấy biết tất cả, có khả năng biết rõ thực chất của các pháp, nó rất linh hoạt, hiển lộ rõ ràng, sáng suốt, không từng sanh, cũng không từng diệt, không đến cũng không đi, nó là sự sống nhiệm mầu, nó có khả năng biết rõ vận hành của cái tôi sanh diệt, có khả năng soi thấu và phá tan tận cùng nguồn gốc vô minh sanh tử luân hồi...
ST.

Thứ Tư, 14 tháng 7, 2021

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa trọn bộ gồm 28 phẩm và bảy quyển download tại đây

 Kinh Diệu Pháp Liên Hoa thường gọi tắt là kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh Đại thừa quan trọng nhất, được lưu truyền rộng rại ở các nước Á Đông như Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc... Tương truyền, kinh Pháp Hoa được Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) thuyết giảng trên đỉnh núi Linh Thứu (Gṛdhrakūṭa) trước khi ngài nhập Bát Niết-bàn (sa. Parinivarna), tức vào chặng đường cuối của sự nghiệp hoằng hóa chúng sinh (ngũ thời giáo): Hoa Nghiêm (Avatamsaka), A-hàm (Agama), Phương Quảng (Vaipulya), Bát Nhã (Prajnãramita) và Pháp Hoa - Niết Bàn (theo quan niệm của Thiên Thai Tông).

Kinh Pháp hoa là gì?

Kinh Pháp hoa trình bày nhiều quan điểm chủ yếu của Phật giáo Bắc Tông và có ảnh hưởng lớn đến nhiều tông phái khác nhau của Đại thừa như Thiên Thai tông (lấy kinh này làm kinh căn bản), Thiền tông, Phật giáo Nichiren (với chủ trương niệm danh tự kinh: Nam-mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh)... Kinh được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau: tiếng Trung, tiếng Việt, tiếng Nhật, tiếng Anh, tiếng Pháp... Thông thường các dịch bản dựa trên bộ kinh dịch từ tiếng Phạn của ngài Cưu-ma-la-thập (Kumarajiva) đã biến đổi chút nhiều (có thêm các phần kệ, vài phẩm...), bản tiếng Việt lưu hành phổ biến nhất có lẽ là bản dịch của Hòa thượng Thích Trí Tịnh.

Sau khi Phật diệt độ, tăng đoàn phát triển mạnh mẽ và phân bố rộng rãi toàn cõi Ấn Độ (đỉnh điểm dưới thời hoàng đế Asoka). Tuy nhiên, bên cạnh sự lớn mạnh của giáo đoàn, nhiều luồng tư tưởng khác nhau về Phật học nảy sinh. Dần dần, khác biệt về hệ tư tưởng đã phân hóa tăng đoàn thành hai bộ phái chính là Thượng Tọa Bộ (gồm những bậc trưởng lão hòa thượng) và Đại Chúng Bộ (gồm những đại đức trẻ tuổi). Phái Thượng Tọa Bộ có quan điểm bảo thủ, có khuynh hướng duy trì và chấp hành nghiêm ngặt giáo pháp nguyên thủy từ thời sơ khai do Phật giảng dạy. Trong khi đó, Đại Chúng Bộ có quan điểm cấp tiến, thiên về phát triển Phật pháp thông qua tiếp thu tinh hoa giáo lý nhiều tôn giáo khác nhau (đặc biệt là Ấn Độ giáo, Hỏa giáo...) và vận dụng Phật pháp một cách mềm dẻo sao cho phù hợp với tất cả giai cấp, tầng lớp quần chúng. Thí dụ, giáo lý Nguyên thủy cho rằng quả vị cao nhất là A-la-hán trong khi đối với Đại Chúng Bộ là Phật quả (Phật Toàn giác); giáo pháp Đại Chúng Bộ có nhiều quan niệm, tư tưởng mới so với giáo pháp nguyên thủy: Không tính, Tam thân Phật hay Phật tính... Nội bộ hai phái trên tiếp tục có sự phân hóa, sau thời gian dài đã phôi nghén và nảy sinh ra nhiều bộ phái mới nữa (khoảng 18 - 20 bộ phái khác nhau). Phật giáo đã vượt xa khỏi biên cương lục địa Ấn Độ mà truyền bá sang các vương quốc Trung Á (vương quốc Bactria, vương quốc Kushan thậm chí còn vang vọng tận Hy Lạp: ảnh hưởng đến hệ thống học thuyết của các triết gia Pyrrho, Onesicritus, Hegesias thành Cyrene...), các đảo khơi xa ở Ấn Độ Dương như Sri Lanka, Maldives... thậm chí còn chạm đến các nước Đông Nam Á như Malaysia, Indonesia, Việt Nam... Mỗi bộ phái có vùng tập trung riêng biệt và không ngừng hoàn thiện hóa luận thuyết của mình. Từ một hệ thống quan niệm nhân sinh gần gũi với mọi chúng sinh, Phật giáo giờ đây trở thành một tôn giáo với những triết lý vượt tầm quần chúng và xa rời khỏi nhân dân. Ngoài ra, mầm mồng Ấn Độ giáo đã nhen nhóm và cạnh tranh mạnh mẽ để giành lại ảnh hưởng trong tư tưởng nhân dân Ấn Độ. Do đó, nhiều bộ phái tiếp tục du nhập các giáo lý mới và hình thành nên Phật giáo Đại thừa (Mahayana) đồng thời họ gọi những giáo phái còn lại là Phật giáo Tiểu thừa (Hinayana).


Bức phù điêu diễn tả một phần cảnh kinh Duy-ma-cật Sở thuyết và kinh Diệu Pháp Liên Hoa đời Bắc Tề
Phật giáo Đại thừa không ngừng phát triển với những đỉnh cao về thành tựu lý luận thông qua dòng văn Bát-nhã, Bảo Tích, Duy-ma-cật Sở Thuyết Kinh, Hoa Nghiêm Kinh... Các kinh điển trên thể hiện các góc nhìn mới mẻ và đa chiều về Phật giáo nhưng kèm theo đó là sự khích bác, chê bai và đôi khi là luận chiến với giáo lí Tiểu thừa (đỉnh điểm là kinh Duy-ma-cật) như xem những người tu hạnh Thanh văn, Duyên giác không phải là con Phật; xem Tiểu thừa là những kẻ đã nhận hạt giống giải thoát từ đức Phật mà không chịu gieo trồng làm chủng tử ấy hư hoại và biến mất ("Tiêu nha bại chủng")... Chính sự mâu thuẫn giữa các bộ phái càng đẩy Phật giáo vào sự suy thoái và yếu thế trước sự phát triển lớn mạnh của Ấn Độ giáo. Trước tình hình như vậy, kinh Pháp Hoa ra đời như sự xoa dịu và dung hợp tất cả các giáo lý truyền thống và mới mẻ của Phật giáo. Kinh Pháp Hoa chấp nhận mọi pháp môn khác nhau và xem tất cả thừa đều chỉ là một Phật thừa duy nhất với nhiều biểu hiện khác nhau để phù hợp với căn cơ của từng người khác nhau.

Do đó, kinh Pháp Diệu Pháp Liên Hoa đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống kinh điển Phật giáo Đại thừa. Kinh được suy tôn là "Vua của các kinh" và bản thân trong phẩm Dược Vương Bồ-tát bản sự (phẩm 23) của kinh Pháp Hoa, Phật đã dạy Bồ-tát Tú Vương Hoa:

"Này Tú Vương Hoa, trong các dòng nước như sông ngòi, kênh rạch thì biển là lớn nhất; trong các kinh thì kinh Pháp Hoa này là lớn nhất. Lại như trong các núi non: thổ sơn, hắc sơn, núi Tiểu Thiết-vi, núi Đại Thiết-vi thì núi Diệu Cao là bậc nhất, kinh Pháp Hoa này cũng như thế, ở trong các kinh rất là bậc thượng. Lại như trong các ngôi sao, Mặt Trăng là bậc nhất; kinh Pháp Hoa này cũng như thế, ở trong muôn trùng các kinh pháp, rất là sáng. Lại như mặt trời hay trừ các chỗ tối tăm, Kinh này cũng thế, hay phá tất cả các sự tối tăm, bất thiệt. Lại như trong các vua nhỏ, Chuyển Luân Thánh Vương là bậc nhất đế vương; Kinh này cũng như thế, ở trong các Kinh là bậc tôn hơn cả. Lại như Đế Thích là vua trong tam thập tam cõi trời; Kinh này cũng như thế là vua trong các kinh.

(...)

Như Phật là vua của các pháp (Pháp vương), Kinh này cũng thế là vua của các kinh."

—Phẩm 23. Dược Vương Bồ-tát Bản sự, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Ý nghĩa Kinh Pháp Hoa

Không phải ngẫu nhiên mà Kinh Pháp Hoa được xếp vào hàng “Vua của các kinh”, bởi vì Kinh thuộc về giáo lý tối thượng mà Đức Phật đã thuyết để đưa các đệ tử của Ngài lên một Cỗ xe và thành tựu Phật quả.

Đức Phật dạy: “Nhất Phật thừa là giáo lý cao siêu, chỉ dành cho hàng căn cơ thuần thục”. Cho nên, ai viết chép, thọ trì, giảng nói được Kinh này phải biết người ấy có công đức vô lượng. Nếu không nhờ có lòng tin lớn, gieo trồng căn lành từ vô lượng kiếp thì khó mà thành tựu được. Trong Kinh Pháp Bảo Đàn có đoạn nói: Có vị thầy Pháp Đạt một hôm đến tham bái lục Tổ Huệ Năng, vị đó đỉnh lễ Tổ ba lạy mà đầu không sát đất, Tổ nói rằng:

“Lạy là để phá trừ kiêu mạn, tỏ lòng cung kính, lạy mà đầu không chấm đất chi bằng đừng lạy”. Trong tâm ngươi hẳn có điều gì chất chứa, hãy nói ra xem? Pháp Đạt thưa: Tôi niệm Kinh Pháp Hoa đã tới ba ngàn bộ. Tổ nói: “Nếu nhà ngươi niệm đến muôn bộ, hiểu được ý Kinh, nhưng chẳng cho đó là hơn người, thì cùng đi một đường với Ta. Nay nhà ngươi ỷ vào việc tụng Kinh, nên chẳng biết lỗi”.

Rồi Tổ nói kệ:

“Lễ vốn diệt kiêu mạn

Sao đầu chẳng sát đất

Chấp ngã, tội liền sinh

Quên công, phúc cao ngất”.

Pháp Đạt nghe kệ xong, hối lỗi mà tạ rằng: “Từ nay về sau, xin khiêm cung với tất cả”.

Kinh Pháp Hoa cũng dạy một hạnh khiêm cung, nhẫn nhục qua hình ảnh Bồ Tát Tường Bất Khinh, gặp ai cũng cung kính chắp tay nói: “Tôi không dám khinh Ngài, vì trước sau Ngài cũng sẽ thành Phật”. Có người nghe sinh hoan hỷ, có người mắng nhiếc, nhưng Ngài vẫn giữ một tâm niệm khiêm nhường như thế. Vì ngài biết rõ, mọi người ai cũng có Phật tính và khả năng tu hành thành Phật. Tất cả chúng sinh, hoặc trong hiện tại hay vị lai, nếu đã từng một lần được nghe Kinh Pháp Hoa nhất định sẽ thành Phật.

Hình ảnh Bồ Tát Thường Bất Khinh giúp người tu hành dẹp bỏ được tâm ngã mạn trên đường tu. Nên Phật dạy, người trì Kinh Pháp Hoa, ví như người đào giếng trên cao nguyên, là việc làm vô cùng khó khăn, cao nguyên ví như đồng hoang sinh tử. Nước trên đó chỉ cho nguồn tâm thanh tịnh sẵn có nơi mỗi chúng sinh. Nhưng vì vô minh che lấp nên nguồn tâm ấy không hiển lộ. Như người có trí ra sức đào mãi, nhất định cũng đến phần đất ướt, cứ như vậy mãi cũng phải đến mạch nước ngầm, tức là thấy Đạo, đào tiếp cho đến khi nước phun lên là thể nhập Phật tính, là thành tựu Phật quả.

Song, việc đào giếng có thể một năm, hai năm hay vài mươi năm rồi cũng hoàn thành, nhưng việc tu tập và hành trì theo Kinh Pháp Hoa để ngộ nhập Phật Tri Kiến “Nhất Thiết chủng trí” là sự nghiệp cửa cả một đời, nhiều đời hay nhiều A tăng kỳ hiếp cũng chưa chắc đã thành tựu, nếu ta cũng không dõng mãnh, tinh cần.

Kinh Pháp hoa diễn giải sơ lược

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa có tên đầy đủ là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Hộ Niệm. Trong đó, Diệu Pháp mang ý nghĩa là Tri kiến Phật có sẵn trong mỗi chúng sinh (Phật tính) còn Liên hoa (tức hoa sen) là một loài hoa mang ý nghĩa biểu tượng cho Diệu Pháp. Sở dĩ liên hoa là dụ của Diệu Pháp do hoa sen có những đặc điểm sau:

Tri kiến Phật là Diệu Pháp vì đây là pháp vượt qua mọi pháp thế gian, không có pháp nào có thể sánh được Tri kiến Phật. Tri kiến Phật là pháp sẵn có, bất sinh - bất diệt có trong mọi chúng sinh tức mọi chúng sinh đều có Tri kiến Phật và có thể giác ngộ thành Phật. Tri kiến Phật là tư tưởng cốt lõi của kinh: nội dung kinh chủ yếu trình bày và diễn giải tư tưởng này.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa trọn bộ gồm 28 phẩm và bảy quyển:

Quý vị có thể download kinh pháp hoa có chư trọn bồ tại đây: kinh pháp hoa

Download kinh pháp hoa diễn giải sơ lược tại đây: kinhphaphoa-htthichtriquang

Ngoài ra, nếu Quý vị cần mua sách kinh pháp hoa để thuận tiện đọc tụng mỗi ngày có thể liên hệ với Hoa Đăng Đức Lương qua hotline 0934502712 hoặc đặt hàng online tại đây: 

kinh pháp hoa pdf,

kinh pháp hoa diễn giải,
kinh pháp hoa pdf download,
kinh pháp hoa có chư trọn bồ,
kinh pháp hoa là gì,
kinh diệu pháp liên hoa trọn bồ,
chép kinh pháp hoa,

Thứ Ba, 6 tháng 7, 2021

Chú đại bi là gì? Tụng chú đại bi tại đây

Nhiều anh chị mới tìm hiểu về Phật pháp thường có thắc mắc không rõ chú đại bi là gì? chú đại bi tiếng anh viết như thế nào? hay chú đại bi 5 biến, chú đại bi 7 biến là gì và các tải file chú đại bi pdf ở đâu? Hôm nay Hoa Đăng Đức Lương sẽ giải đáp và cung cấp cho các anh chị những thông tin cần thiết đó ngay trong bài viết này. 

Chú đại bi là gì

 

Chú Đại Bi, hay Đại Bi Tâm Đà La Ni (Maha Karunika citta Dharani), là bài chú căn bản minh họa công đức nội chứng của Đức Quán Tự Tại Bồ Tát (Avalokiteśvara Bodhisatva). Bài chú này còn có các tên gọi là: Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni, Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thanh Cảnh Đà La Ni…
 
Theo kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, bài chú này được Bồ tát Quán Thế Âm đọc trước một cuộc Hội kiến của các Phật, bồ tát, các thần và vương. Cũng như câu Om Mani Padme Hum rất phổ biến ngày nay, Đại Bi chú là chân ngôn phổ biến cùng với phật Quán Thế Âm ở Đông Á, bài chú này thường được dùng để bảo vệ hoặc để làm thanh tịnh,quả báo phước đức của người trì tụng chú thật không thể nghĩ bàn!
Chân ngôn này được trích từ Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà La Ni Kinh. Trong kinh ngài Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn, con có chú Đại Bi tâm đà ra ni, nay xin nói ra, vì muốn cho chúng sanh được an vui, được trừ tất cả bịnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được thành tựu tất cả thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu. Cúi xin Thế Tôn từ bi doãn hứa.", rồi sau đó đọc Chú Đại Bi.
 
"Bồ tát thuyết chú xong, cõi đất sáu phen biến động, trời mưa hoa báu rơi xuống rải rác, mười phương chư Phật thảy đều vui mừng, thiên ma ngoại đạo sợ dựng lông tóc. Tất cả chúng hội đều được quả chứng."

Phiên bản tiếng Việt của Chú Đại bi như sau:

Thiên thủ Thiên nhãn vô ngại Đại bi Tâm Đà la ni
 
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô yết đế thước bác ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án. tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.
Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. Bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà.
Nam mô na ra cẩn trì. hế rị ma ha bàn đá sa mế, tát bà a tha đậu du bằng. a thể dựng, tát bà tát đa na ma bà già. ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án! a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng. cu lô cu lô kiết mông. độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô. Bồ đề dạ bồ đề dạ, Bồ đà dạ bồ đà dạ, Di đế rị dạ, na ra cẩn trì. địa rị sắc ni na, Ba dạ ma na. ta bà ha. Tất đà dạ. Ta bà ha. Ma ha tất đà dạ. ta bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra dạ. ta bà ha. Na ra cẩn trì. Ta bà ha. Ma ra na ra. Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ. Ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ. Ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, Ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ. Ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ. Ta bà ha.
Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da, Nam mô a rị da bà lô yết đế, thước bàn ra dạ, Ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha.
Mỗi câu trong bài chú tượng trưng với từng ý nghĩa và hình ảnh một vị Phật, Bồ Tát, Tôn Giả hoặc Thánh Thần do Đức Quan Âm Bồ Tát hóa thân

Bản dịch tiếng việt của chú Đại Bi

Đây là bản dịch tiếng Việt hiện đại từ văn bản cổ điển của sử gia sử gia Lê Tự Hỷ (Vn) và Lokesh Chandra (Ấn Độ):
01. Nam mô hát (hoặc: hắc) ra đát na đá ra dạ da — Kính lạy Tam bảo
02. Nam mô A rị a — Kính lạy Chư Thánh hiền
03. Bà lô yết đế thước bát ra da — Quán Thế Âm (Avalokiteśvara)
04. Bồ đề Tát đá bà da— Bồ Đề Tát
05. Ma ha Tát đá bà da — Sự vị đại
06. Ma ha ca lô ni ca da — Lòng Từ Bi vĩ đại
07. Án — Án
08. Tát bàn ra phạt duệ — Người bảo vệ khỏi mọi nguy hiểm
09. Số đát na đát tả — Vượt qua nỗi sợ hãi
10. Nam mô tất cát lị đóa y mông A rị a — Kính lạy và sùng bái chư Thánh Thiên
11. Bà lô cát đế thất phật ra lăng đà bà — Quán Thế Âm (Avalokisteśvara)
12. Nam mô Na ra cẩn trì — Kính lạy Nīlakaṇṭha (Nīlakaṇṭha =tên= Cổ Xanh )
13. Ha rị Ma ha Bàn đà sa mế — Con sẽ tụng lên bài Tâm Chú
14. Tát bà a tha đậu thâu bằng — Làm cho tất cả chúng sinh chiến thắng
15. A thệ dựng — Bất khả chiến bại
16. Tát bá tát đá ( Na ma bà tát đá) — Loại bỏ những ảo tưởng thanh lọc tất cả chúng sinh
17. Ma phạt đặc đậu — Trên những con đường của sự tồn tại
18. Đát điệt tha. Án — Là như sau
19. A bà lô hê —Ánh huy hoàng
20. Lô ca đế — Siêu việt
21. Ca la đế (hoặc) Ca ra đế) — Chiếu sáng
22. Di Hê rị (hoặc : Ha ri) - Ôi Harị (là 1 trong các tên của Vishnu)
23. Ma ha Bồ đề tát đỏa — Chư Đại Bồ Tát
24. Tát bà Tát bà — Tất cả chúng sinh
25. Ma ra Ma ra — Hãy nhớ, hãy nhớ …
26. Ma hê Ma hê rị đà dựng — …bài Tâm Chú của con
27. Câu lô câu lô yết mông — Hành động, hãy hành động
28. Độ lô độ lô, Phạt sà da đế — Tiếp tục, hãy tiếp tục, Cho đến khi chiến thắng
29. Ma ha phạt sà da đế — Chiến thắng vẻ vang
30. Đà ra đà ra — Giữ chặt
31. Địa rị ni — Hỡi Đức Vua …
32. Thất Phật ra da — … Của Địa Cầu
33. Da ra Da ra (hoặc : Giá ra Gia rá) — Tiến lên Tiến lên
34. Ma ma phạt ma ra — Thần tượng …
35. Mục đế lệ — … không tì vết …
36. Di hê di hê — … Hãy đến, hãy đến…
37. Thất na Thất na — … với con rắn màu đen …
38. A ra sấm Phật ra xá lị — … phá hủy …
39. Phạt sa phạt sấm — …chất độc …
40. Phật ra xá da — … Đấng Tối cao 
41. Hô lô Hô lô ma ra — Xin nhanh lên, xin nhanh lên, hỡi Ngài Dũng Mãnh
42. Hô lô Hô lô hê rị — Xin nhanh lên , Xin nhanh lên , hỡi Ngài Hari
43. Ta ra Ta ra (hoặc : Sa ra Sa ra) — Hãy xuống Hãy xuống
44. Tất lị Tất lị — Đến Đến
45. Tô lô Tô lô — Hạ cố Hạ cố
46. Bồ đề dạ Bồ đề dạ — Bậc đã giác ngộ Bậc đã giác ngộ
47. Bồ đà dạ Bồ đà dạ — Xin ngài hãy giác ngộ con, Xin ngài hãy giác ngộ con
48. Di đế rị dạ — Nhân từ
49. Na ra cẩn trì — Nīlakaṇṭha
50. Địa rị sắt ni na — Xin ngài hãy làm cho tim con an lạc …
51. Ba dạ ma na — … bằng cách hiện ra trong tim con 
52. Ta bà ha (hoặc : Sa bà ha) - Con xin đón mừng Ngài
53. Tất đà dạ - Sư phụ đã hoàn thành
54. Ta bà ha - Con xin đón mừng Ngài
55. Ma ha Tất đà dạ — Người Thầy vĩ đại đã hoàn thành
56. Ta bà ha - Con xin đón mừng Ngài
57. Tất bà dụ nghệ - Tâm trí hoàn toàn …
58. Thất phàn ra da - … giác ngộ 
59. Ta bà ha - Con xin đón mừng Ngài
60. Na ra cẩn trì — Nīlakaṇṭha — (Nīlakaṇṭha )
61. Ta bà ha - Con xin đón mừng Ngài
62. Ma ra na ra — Người có gương mặt Heo rừng đực
63. Ta bà ha - Con xin đón mừng Ngài
64. Tất ra tăng a Mục da da — Người có gương mặt Sư tử
65. Ta bà ha - Con xin đón mừng Ngài
66. Sa bà ma ha a tất đà dạ — Người mang trong tay cái chùy
67. Ta bà ha - Con xin đón mừng Ngài
68. Giả cát ra a tất đà dạ — Người cầm trên tay chiếc bánh xe
69. Ta bà ha - Con xin đón mừng Ngài
70. Ba đà ma yết tất đà dạ — Người mang trên tay hoa sen
71. Ta bà ha - Con xin đón mừng Ngài
72. Na ra cẩn trì Bàn dà ra da — Nīlakaṇṭha , Đấng linh thiêng nhất
73. Ta bà ha - Con xin đón mừng Ngài
74. Ma bà lị thắng yết ra dạ — Để được mạnh mẽ, để được tốt lành
75. Ta bà ha - Con xin đón mừng Ngài
76. Nam mô hát (hoặc: hắc) ra đát na đá ra dạ da — Kính lạy Tam bảo
77. Nam mô A rị a — Kính lạy Chư Thánh hiền
78. Bà lô yết đế — Avalokite …( phần đầu của tên)
79. thước bát ra da — … svaraya (phần cuối của tên = Avalokisteśvara = Quán Thế Âm)
80. Ta bà ha - Con xin đón mừng Ngài
81. Án. Tất điện đô – (xem mục 83)
82. Mạn đá ra — (xem mục 83 )
83. Bạt đà da — Án.Cầu xin những lời trì chú trở thành hiện thực.
84. Ta bà ha - Con xin đón mừng Ngài.
Mỗi hình tượng của đức quán thế âm bồ tát lại cầm các pháp bảo như chuông loa,loa ốc,bàng bài,nhành dương liễu và tịnh bình,...v.v Mỗi pháp bảo ấy tượng trưng cho 42 thủ nhãn ấn pháp của đức quán âm nghìn tay nghìn mắt

Bản tiếng phạn của chú đại bi

Sau đây là phần tái hiện văn bản bằng tiếng Phạn IAST dựa trên các công trình của sử gia Lê Tự Hỷ (Vn) ) và Lokesh Chandra (Ấn Độ). Nó được chia thành 18 câu có cấu trúc ngữ pháp, không giống trường hợp của văn bản chuyển ngữ được đọc trong các nghi lễ tôn giáo, được chia thành 84 câu, để tôn trọng nhịp điệu thuận theo quy định của nghi lễ (Người ta có thể nhận thấy rằng các thuật ngữ "dhāraī "và" mantra "được sử dụng luân phiên).

I. Lời chào mở đầu :

01. Namo ratna-trayāya
02. Nama āryāvalokiteśvarāya bodhisattvāya mahā-sattvāya mahā-kāruṇikāya

II. Danh hiệu của đức Quán Tự Tại :

03. Oṃ sarva-bhayeṣu trāṇa-karāya tasya namaskṛtvā imam Āryāvalokiteśvara-stavanaṃ Nīlakaṇṭha-nāma

III. Sự tụng lên câu kệ về Công đức của bài Tâm Chú

04. hṛdayaṃ vartayisyāmi sarvārtha-sādhanaṃ śubham
05. ajeyam sarva-bhūtānām bhava-mārga-viśodhakam

IV. Dhāraṇī (Các câu chú) :

06. Tadyathā: Om Ālokapate lokātikrānta
07. Ehi Hare mahā-bodhisattva sarpa-sarpa smara- smara mama hṛdayam
08. Kuru-kuru karma dhuru-dhuru vijayate mahā-vijayate
09. Dhara-dhara dharaṇī-rāja cala-cala mama vimala-mūrte
10. ehi ehi kṛṣṇa-sarpopavīta viṣa- viṣaṃ praṇāśaya
11. Hulu-hulu Malla hulu-hulu Hare sara-sara siri-siri suru-suru
12. Bodhiya-bodhiya bodhaya-bodhaya maitreya Nīlakaṇṭha darśanena prahlādaya manaḥ svāhā
13. siddhāya svāhā mahā-siddhāya svāhā siddhayogīśvarāya svāhā
14. Nīlakaṇṭhāya svāhā varāha-mukhāya svāhā narasiṃha-mukhāya svāhā
15. Gada-hastāya svāhā cakra-hastāya svāhā padma-hastāya svāhā
16. Nīlakaṇṭha-vyāghrāya svāhā Mahābali-Śaṅkarāya svāhā

V. Lời chào kết thúc :

17. Namo ratna-trayāya Nama āryāvalokiteśvarāya bodhisattvāya svāhā
18. Oṃ sidhyantu me mantra padāni svāhā.

chú đại bi 5 biến, chú đại bi 7 biến là gì?

Chú Đại Bi 5 biến mang ý nghĩa tích tụ và phát xung năng lượng Từ Bi từ chính bản thân mỗi con người. Tụng chú đại bi 5 biến là sẽ giúp lòng yêu thương phát sinh ở khắp chúng sinh xung quanh nguồn phát để diệt trừ những điều xấu xa, tâm tà, hung ác.
Chú Đại Bi 5 biến là bài kinh chú được trì tụng lại 5 lần. Quý Phật tử có thể hiểu theo cách đơn giản là bài Kinh Chú Đại Bi dịch ra tiếng Việt cơ bản có 84 dòng. Tùy tâm cũng như nhiều yếu tố liên quan khác về thời gian, không gian, sức khỏe… mà hành giả có thể trì tụng lặp đi lặp lại bài kinh gốc bao nhiêu lần tùy ý. Mỗi lần là một biến. Hành giả có thể tụng 3 lần, 5 lần, 7 lần, 21 lần, 49 lần hay 108 lần… Đến đây thì chắc hẳn quý Phật tử cũng đã hiểu được sự khác nhau Chú Đại Bi 3 – 5 – 7 – 21 – 49 biến là gì rồi phải không nào?

chú đại bi tiếng anh

Chú đại bi tiếng anh là The Great Compassion Mantra. Dưới đây là 1 bài chú đại bi dịch tiếng anh, mời quý Phật tử quan tâm tham khảo: 
Nammo Ratna Trayaya
Nammo Arya Jnana
Sagara Vairochana
Byuharatchaya Tathagataya
Arahate
Samyaksam Buddhaya
NammoSarwa Tathagathe Bhyay
Arahata Bhyah
Samyaksam Buddhe Bhvah
Nammo Arya Avalokite
Shoraya Bodhisattvaya
Maha Sattvaya
Maha Karunikaya
Tadyata Om Dara-dara
Diri-diri, Duru-duru
Itte We Itte Chale Chale
Purachale Purachale
Kusume Kusuma
Wa Re Ili Mili Chiti Jvalam Apanave Shoha
 

chú đại bi pdf tải tại đây: chú đại bi pdf

 

Cách tu tập để chuyển hóa bất thiện thành Chánh Niệm - transforming unwholesome mind states

 Cần tu tập để chuyển hóa bản thân, biến bất thiện thành hạt giống của tình thương và sự hiểu biết. Thay đổi suy nghĩ của bạn Sáu bước để ch...